VIÊM ĐẠI TRÀNG MÃN TÍNH

(BS LY Hoàng Duy Tân có đề cập về cách chữa bệnh Viêm Đại Tràng Mãn Tính trong sách Thuốc Nam và Bấm Huyệt Trị Bệnh Thường Gặp Khó Chữa ở trang 99).

 

Ông Nguyễn văn T, 62 tuổi, bị tai nạn xe rách bắp chân kèm gẫy xương ống chân, vừa phải bó bột, vừa phải uống rất nhiều trụ sinh, kéo dài gần hai tháng vết thương mới khỏi.

Khi vết thương khỏi thì bụng của ông cũng có dấu hiệu “phản đối”. Đường tiêu hóa rối loạn khi thì cảm thấy trướng, nặng, khi bón, khi tiêu chảy nhiều lần trong ngày. Ăn uống ông cũng phải kiêng khem, sụt cân, trở nên tức bực với mọi người trong nhà, bao nhiêu thuốc hay, thuốc bổ tốt con cái cũng đều mua về cho ông tẩm bổ thế nhưng bệnh trạng của ông ngày càng tồi tệ hơn. Phân ngày càng đặc dính như keo, mùi rất hôi, cả hơi thở cũng có mùi khó chịu. Nước tiểu vàng đậm ít và nóng, gắt. Người bứt rứt, các bắp thịt đều như có con gì bò bên trong rất khó chịu.

Cho là người này bị  thấp nhiệt độc tụ lại trong ruột, Thầy Hoàng Duy Tân dùng phương trừ thấp độc nhưng cân nhắc vì người này đang tiêu chảy nhiều lần còn nếu dùng thuốc cho xổ thấp nhiết độc sẽ bị xổ ra nhưng sẽ làm cho ông mệt hơn.

Thầy cho bệnh nhân dùng: Sinh địa 20g, Thổ phục linh 40g, Rễ cỏ tranh (tươi) 40g, Cành dâu 20g. Sắc uống ngày một thang.

Kết quả sau khi uống thang thứ nhất: ông cảm thấy trong người đỡ bứt rứt, đi tiểu đỡ gắt, đỡ nóng và nước tiểu ra đỡ vàng hơn. Ngày thứ hai, buổi sáng khi đi tiêu, ra khá nhiều phân và đờm nhớt. Ngày thứ ba, các chứng nóng bứt rứt giảm được hơn phân nửa. Mỗi ngày chỉ đi tiêu một lần. Sau hai tuần, các triệu chứng rối loạn tiêu tiểu khỏi hẳn, tiêu tiểu trở lại bình thường, trong người hết hẳn các cơn bực tức, các bắp thịt cũng hết mỏi, buồn…

Từ đó, chứng rối loạn (viêm) đại tràng cũng hết hẳn.

Củ sinh địa

SINH ĐỊA

Tên khoa học là Radix Rehmanniae. Đông y còn gọi là Can địa hoàng.

Là rễ củ của cây Địa hoàng, tên khoa học là Rehmannia glutinosa (Gaernt) Libosch.

Thường có hình khối kết không nhất định hoặc hình tròn dài, giữa phình to, hai đầu hơi nhỏ. Mặt ngoài màu đen tro hoặc tro nâu, rất nhăn nheo, có những vằn ngang cong lộn xộn.

Khi mua, nên lựa củ to, nặng, mặt cắt ngang có dầu ướt và đen nhánh.

Theo Đông y, Sinh địa vị ngọt, lạnh. Có tác dụng tư âm, thoái dương, sinh huyết, lương huyết.

tho phuc linh

THỔ PHỤC LINH

Tên khoa học là Rhizoma Smilacis Glabrae. Là thân củ khô của cây Khúc khắc (Smilax glabra Roxb). Thuộc họ Hành tỏi (Liliaceae).

Thổ phục linh hình thù không nhất định, giống như hình, to nhỏ không đều, giống như hình trụ tròn dẹt, hơi cong. Mặt ngoài màu vàng nâu vàng, sù sì, lồi lõm không phẳng. Đa số có màu nâu nhạt, hơi bóng. Sau khi cho nước tẩm cho ẩm, lấy tay miết vào thấy có cảm giác trơn bóng.

Khi mua, lựa thứ màu nâu nhạt, bột nhiều, vết bẻ nhám, ít gân.

Theo Đông y, Thổ phục linh vị ngọt, nhạt, tính bình. Có tác dụng lợi thấp, giải độc.

rể tranh

RỄ CỎ TRANH

Tên khoa học là Rhizoma Imperatae.

Đông y gọi là Bạch Mao Căn.

Là thân rễ dưới đất của cây Tranh (Imperata cylindrica (L.) P. Beauv. Thuộc họ Lúa (Gramineae).

Khi dùng, nên chọn thứ rễ to, mập, màu trắng, không có rễ con, vị ngọt mới là loại tốt.

Theo Đông y, Rễ tranh vị ngọt, lạnh, lương huyết, cầm máu, lợi tiểu.

cành dâu

CÀNH DÂU

Tên khoa học là Ramulus Mori. Đông y gọi là Trang chi.

Cành dâu là cành non khô của cây dâu (Morus alba L.) thuộc họ Dâu (Moraceae). Cây dâu đây là dâu nuôi tằm.

Khi mua, lựa loại cành nhỏ, dai và chắc, mặt cắt màu trắng ngà, nhai thấy hơi dính là loại tốt.

Theo Đông y, Lá dâu vị đắng, tính bình. Có tác dụng trừ phong thấp, lợi các khớp xương, hành thủy.

.
.
.
.